Nhân kỷ niệm ngày 1-11-1963
Nh́n lại kinh nghiệm Ngô Đ́nh Diệm
Nguyễn Gia Kiểng
Hơn bốn mươi năm đă trôi
qua từ ngày ông Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ
và sát hại, sau 9 năm cầm quyền. Đă có rất
nhiều người viết về ông. Tất cả
đều nhận định là ông đă phạm phải một
số sai lầm nghiêm trọng, đưa đến
sự sụp đổ của chế độ mà ông
dựng ra và cái chết bi đát của ông và hai
người em. Những sai lầm đó là: quá thiên vị
đối với Công giáo; đưa anh em vào những
địa vị quyền lực chính và để cho
họ lộng hành, tạo ra một chế độ "gia
đ́nh trị"; gạt bỏ những người thân
tín lúc ban đầu như Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán
Sơn; tin dùng bọn nịnh thần; xử lư vụng
về vụ treo cờ Phật giáo ở Huế đưa
đến bạo động ; quan niệm và thực
hiện sai các chính sách cải cách điền địa,
khu trù mật, ấp chiến lược, v.v.
Nhưng phải chăng nếu Ngô Đ́nh
Diệm không mắc phải những sai lầm đó th́ ông
đă thành công, chế độ Việt Nam Cộng Ḥa
đă đứng vững và lịch sử Việt Nam có
thể đă rất khác?
Phải nói ngay là tôi không chấp nhận
những lập luận này. Đây chỉ là những sai
lầm tương đối nhỏ, được khai
thác để lật đổ ông Diệm, chứ không
phải là nguyên nhân thực sự đưa tới sự
sụp đổ của chế độ Diệm. Trong
cùng một thời điểm, chế độ cộng
sản miền Bắc đă làm những sai lầm to
lớn hơn nhiều. Vụ treo cờ Phật giáo ở
miền Trung đưa đến bạo loạn làm 8
người thiệt mạng không là ǵ so với đợt
cải cách ruộng đất ở miền Bắc.
Những bội bạc với những công thần cũng
không thể nào so sánh được với các vụ Nhân
Văn-Giai Phẩm, Xét lại chống đảng. Đám
quần thần của ông Diệm không đến nỗi lộng
hành như tập đoàn Lê Đức Thọ, Trần
Quốc Hoàn. Đảng cộng sản bỏ Liên Xô theo
Trung Quốc năm 1960, rồi lại bỏ Trung Quốc
theo Liên Xô từ năm 1970 trở đi. Chính sách tập
thể hóa lao động đă thất bại thê thảm,
đưa đến nạn đói kém tại khắp
miền Bắc. Đảng cộng sản không những
chỉ chèn ép Phật giáo, họ xóa bỏ luôn Phật giáo
tại miền Bắc.
Mặc dầu vậy, chế độ
cộng sản vẫn đứng vững và sau cùng toàn
thắng. Vậy th́ không phải là do đă phạm một
số sai lầm mà Ngô Đ́nh Diệm đă thất
bại. Nói một cách giản dị, chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm, cũng như mọi chính quyền quốc
gia trước và sau ông, đă thất bại bởi v́ nó
phải thất bại dù có phạm phải những sai
lầm đă được nêu ra hay không. Các chế
độ quốc gia - Quốc Gia Việt Nam, rồi
Việt Nam Cộng Ḥa - đă được xây dựng
trên những nền tảng ư thức, lịch sử và
văn hóa sai th́ các chính quyền quốc gia chỉ có
thể sai lầm mà thôi. Không phạm sai lầm này th́
cũng sẽ phạm sai lầm khác.
Nếu tôi chỉ đề cập
đến ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu th́
cũng chỉ v́ một sự nể nang đặc
biệt đối với hai ông. Những người
cầm quyền khác của phe quốc gia hoặc chỉ
xuất hiện trong một thời gian quá ngắn ngũi
để có thể nhận xét, hoặc quá tồi dở
để đáng được nói tới.
Ông Diệm và ông Nhu đă hiểu một
cách rất lệch lạc về bối cảnh thế
giới, t́nh h́nh Việt Nam, về sứ mạng của
họ, về những ǵ phải làm và nên làm. Sự
thất bại của họ là điều không tránh
khỏi, tất cả vấn đề c̣n lại chỉ
là thất bại như thế nào mà thôi, nghĩa là không
quan trọng.
Họ đă lầm về thời
đại và các giá trị.
Điều mà ông Ngô Đ́nh Diệm không ư
thức được là một quốc gia Việt Nam
mới đă thành h́nh sau một thế kỷ Pháp thuộc
và cọ sát hàng ngày với các giá trị phương Tây.
Nước Việt Nam mới này rất khác với
nước của các vua chúa nhà Nguyễn và các triều
đại trước đó. Nó là tổng hợp của
một lịch sử dài, một khả năng học
hỏi và thích nghi cao, một sự sung túc chưa bao
giờ có và một khối lượng khổng lồ
những kiến thức và giá trị mới. Quần chúng
Việt Nam đă đủ mạnh để có vai tṛ
quyết định và cũng muốn đóng vai tṛ đó.
Họ không c̣n là những thần dân nữa, họ đă
trở công dân biết phê phán những người
cầm quyền. Nền tảng chính đáng của một
chính quyền hay một lănh tụ từ nay chủ yếu
tùy thuộc vào sự chấp nhận của quần chúng.
Và quần chúng lư luận và phê phán theo sự hướng
dẫn của những "trí thức dân tộc" có
kiến thức, gần gũi với họ và chiếm
được cảm t́nh của họ v́ đă xác
nhận qua hành động và hy sinh sự gắn bó với
đất nước Việt Nam. Đó là những trí
thức của Đông Kinh Nghĩa Thục, Trung Kỳ Dân
Biến, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Thanh
Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội, Xô Viết Nghệ
Tĩnh, Tự Lực Văn Đoàn, Đại Việt,
v.v. Đó không phải là những ông tổng đốc,
tuần phủ, tri huyện, đốc phủ sứ, thầy
thông, thẩy phán. Thành phần trí thức yêu nước này
quyết định sự chính đáng của các chính
quyền và các nhân vật tùy theo những đóng góp cho
cuộc tranh đấu giành chủ quyền dân tộc.
Nếu nhận xét như vậy th́ ông
Diệm hoàn toàn không có một sự chính đáng nào. Ông là
con nhà quan, học tạm đủ, dựa vào địa
vị của cha để học trường hậu
bổ, tức trường dành cho các con quan để
được đào tạo ra làm quan ; rồi đi làm tri
huyện, tuần phủ dưới chế độ Pháp
thuộc. Ông khác hẳn với mẫu người lư
tưởng trong tâm hồn người Việt Nam :
một anh hùng áo vải vươn lên từ sự nghèo khó,
đạt tới sự uyên bác nhờ học hỏi, tha
thiết với thể diện dân tộc và lập thân một
cách hiên ngang, khảng khái. Ông Diệm rất hănh diện
với sự nghiệp của ông. Điều này chứng
tỏ ông rất xa lạ với xă hội Việt Nam và
những giá trị mà nó trân trọng. Sự chính đáng
của ông Diệm càng yếu ở chỗ ông là một
bầy tôi được chỉ định bởi
một ḍng vua đă để mất nước, triều
Nguyễn, và một ông vua hèn nhát trụy lạc, Bảo
Đại. Ông Diệm có thể là người tốt trong
cái thế giới nhỏ hẹp của đám quan lại
của triều đ́nh Huế, nhưng ông không thuộc vào
xă hội Việt Nam và do đó không có tư cách nào
để lănh đạo một nước Việt Nam
độc lập cả.
Quan niệm về sự chính đáng
của ông Diệm rất hủ lậu : ông cho rằng
cứ cầm quyền là đủ để người
dân phải phục tùng và biết ơn. Ông tự xưng là
"cứu tinh dân tộc" và bắt người ta
"suy tôn" cùng với quốc kỳ, bắt "toàn
dân Việt Nam nhớ ơn Ngô tổng thống" và
rước đèn mừng sinh nhật Ngô tổng
thống. Thật là lố lăng. Có người giải
thích rằng ông Diệm đă bắt chước việc
phe cộng sản tôn sùng Hồ Chí Minh, lấy
người hùng địch với người hùng.
Nhưng nếu đúng như vậy th́ quả là một
sự bắt chước ngốc nghếch. Trước
khi tôn sùng Hồ Chí Minh người ta đă tạo ra h́nh
ảnh một Hồ Chí Minh bôn ba, tự lập, vào sinh ra
tử, sống cho đất nước, thông thái nhưng
b́nh dị như một cha già dân tộc, nghĩa là theo
đúng h́nh ảnh lănh tụ lư tưởng trong ḷng
người Việt Nam. Ông Diệm hoàn toàn không có vóc dáng
này.
Chỉ một sự thiếu chính đáng
này thôi cũng đủ để ông Diệm thất
bại rồi, bởi v́ Việt Nam đă thay đổi,
quần chúng đă đă trở thành người quyết
định sự thành bại trong một cuộc nội
chiến, ngay cả nếu họ không ư thức được.
Chính v́ thế mà khối lượng viện trợ
khổng lồ, cả về người lẫn của,
của Hoa Kỳ đă không cứu được chế
độ Việt Nam Cộng Ḥa.
Ông Diệm và ông Nhu c̣n lầm lẫn ngay
cả về ư nghĩa thực sự của cuộc
đấu tranh mà họ lănh đạo. Họ không hiểu
rằng đây là cuộc đấu tranh chống
độc tài và v́ dân chủ. "Quốc sách chống
cộng" mà họ đề ra hoàn toàn mất mọi ư
nghĩa vào lúc chính họ cũng lập ra một chế
độ độc tài. Dĩ nhiên là trong chiến tranh khó
có thể thực hiện đầy đủ dân chủ
được và phải chấp nhận những hạn
chế bắt buộc, với điều kiện là
những giới hạn này được giải thích
một cách minh bạch và lương thiện. Nhưng
vấn đề ông Diệm và ông Nhu không phải chỉ
tạm đ́nh hoăn dân chủ v́ t́nh thế bắt buộc,
họ bất chấp dân chủ và dị ứng với dân
chủ.
Vậy th́ cuộc tranh đấu mà
họ lănh đạo c̣n có ư nghĩa ǵ ngoài lư do là ở vùng
quốc gia no ấm hơn v́ được ngoại
viện nhiều hơn ? Về điểm này, bộ máy
tâm lư chiến của phe quốc gia đă chế ra một
câu bất hũ để chỉ những người mà
họ cho là phản bội : "ăn cơm quốc gia
thờ ma cộng sản". Ăn là động tác sinh
tồn b́nh thường và bắt buộc của mọi
động vật, nhưng quyết định hành
động là tâm hồn. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, cũng
như các chính quyền quốc gia khác, không chinh phục
được ḷng người.
Ông Nhu c̣n làm một sai lầm to lớn
khác, mà những người cầm quyền khác, v́ ít
kiến thức, không mắc phải : đó du nhập
chủ nghĩa nhân vị. Ông Nhu cho rằng muốn đánh
bại chủ nghĩa cộng sản cần có một
chủ nghĩa hay hơn. Không thiếu những
người nghĩ như ông Nhu. Trước đó
Việt Nam Quốc Dân Đảng đua ra chủ nghĩa
Tam Dân ; ông Trương Tử Anh đưa ra chủ
nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn ; ông Lư Đông A chủ
nghĩa Duy Dân. Nhưng những người này không có
dịp để cầm quyền và thử nghiệm
sự sai lầm của họ như ông Nhu.
Trước hết là sai lầm về
cách đặt vấn đề. Chủ nghĩa cộng
sản đáng chống lại không phải chỉ v́ nó là
cộng sản mà trước hết bởi v́ nó là một
chủ nghĩa. Mọi chủ nghĩa, hiểu theo
nghĩa "ư thức hệ", đều phải
bị chống lại bởi v́ đều sai và đưa
đến bế tắc. Tại sao ? Đó là v́ mọi
chủ nghĩa đều là những kết luận do một
cố gắng tổng hợp những dữ kiện
của thế giới. Cứ giả thử là cố
gắng tổng hợp đó đúng đi (một
điều không có ǵ bảo đảm) th́, v́ thế giới
biến đổi không ngừng, ngay khi tổng hợp
vừa đạt được nó đă lỗi thời
rồi. Không làm ǵ có "chân trời lịch sử không
thể vượt xa hơn" như những tín
đồ của Marx rêu rao.
Sau đó là sự vớ vẩn của
chính chủ nghĩa nhân vị. Về bản chất,
chủ nghĩa nhân vị chỉ là một chủ nghĩa
cá nhân v́ không đủ tự tin đă phủ nhận chính
ḿnh. Nó là một cố gắng để dung hợp
giữa hai chủ nghĩa : chủ nghĩa cá nhân, nền tảng
của các chế độ dân chủ, và chủ nghĩa
tập thể, nền tảng của các chế độ
độc tài chuyên chính cộng sản, phát-xít và nazi.
Cuộc hôn nhân ngược ngạo giữa hai triết lư
không thể dung hợp này được thực hiện
trong tinh thần cộng đồng của Thiên Chúa giáo. Lư
do ra đời của nó là trong thập niên 1930, sau cuộc
khủng hoảng kinh tế lớn được coi
như hậu quả của chủ nghĩa tư bản
và những thắng lợi của các lực lượng
chuyên chính tại Nga, Đức và Ư, nhiều trí thức
mất ḷng tin ở dân chủ, mà nền tảng là chủ
nghĩa cá nhân, và loay hoay đi t́m một đường
lối mới.
Emmanuel Mounier là một trong những
người này. Ông lập ra tạp chí L’Esprit, tŕnh bày
những ư kiến về chủ nghĩa nhân vị do ông và
một số thân hữu Công giáo Pháp đề nghị.
Bản thân Mounier cũng viết một cuốn sách nhỏ
với tựa đề "Chủ nghĩa nhân vị là
ǵ ?". Cuốn sách tuy mỏng nhưng không cô đọng,
nó có thể tóm lược trong một vài trang, nếu
bỏ đi những trang biện luận dài ḍng và lắc
léo để đem lại cho một số từ trong
tiếng Pháp, thí dụ như từ personne, một số
nghĩa mới. Hiện nay không c̣n nhà tư tưởng nào
coi chủ nghĩa nhân vị là đáng để ư nữa.
Nếu dựa trên những ǵ ông Nhu đă
viết về chủ nghĩa nhân vị th́ có thể nói là
chính ông cũng chỉ hiểu lơ mơ. Có lẽ ông
đă du nhập chủ nghĩa nhân vị vào Việt Nam v́
lư do giản dị là lúc đó nó được coi là
giải pháp Thiên Chúa giáo cho ḥa b́nh của thế giới. Nó
có tham vọng là một vũ khí tư tưởng
chống lại chủ nghĩa cộng sản. Trên
thực tế, nó là một bước lùi lớn, gần
như một sự đầu hàng, bởi v́ nó phủ
nhận cá nhân, cốt lơi của dân chủ. Việc nó
xuất phát từ những trí thức Công giáo và
được coi như sản phẩm của Công giáo càng
khiến nó trở thành khó chấp nhận đối
với xă hội Việt Nam. Tôi đă có dịp nói
chuyện với nhiều nhân vật quan trọng thân
cận với ông Diệm và ông Nhu. Tất cả
đều nh́n nhận họ chẳng hiểu ǵ về
chủ nghĩa nhân vị cả.
Và làm sao hy vọng có thể lập ra
một chủ nghĩa chính trị nhanh chóng như vậy ?
Ngay trong thời đại của các chủ nghĩa
cũng cần nhiều thế kỷ trước khi
một chủ thuyết giành được một chỗ
đứng đủ mạnh để làm nền tảng
cho một chế độ chính trị. Chủ nghĩa
cộng sản, dù được coi là của Marx, đă
manh nha từ thời cổ Hy Lạp, được chuyên
chở bởi tư tưởng Thiên Chúa giáo, rồi phát
triển mạnh mẽ nhờ những xáo trộn xă
hội khốc liệt do cuộc cách mạng kỹ
nghệ gây ra trước khi Marx va Lenin hệ thống hóa
nó thành một công thức giành chính quyền và cầm
quyền. Ông Nhu, mà một vị đàn anh quí mến
của tôi đánh giá là một trong những người
Việt Nam hiếm hoi có tầm vóc lănh tụ quốc gia,
đáng lẽ đă phải hiểu như vậy.
Về mặt tư tưởng, vào lúc ông
Diệm lên cầm quyền các chủ nghĩa đă hết
thời. Chỉ c̣n lại cuộc đấu tranh v́ dân
chủ, giữa một công thức dân chủ hóa
đứng đắn đă được thử
nghiệm thành công tại Hoa Kỳ và Tây Âu và một công
thức dân chủ hóa bệnh hoạn là chủ nghĩa
cộng sản. Không nên quên rằng về bản chất
chủ nghĩa cộng sản là một công thức
được đề nghị để thực
hiện dân chủ, dù nó đă sai lầm một cách
đẫm máu. Phần lớn các nước cộng
sản lúc đó có quốc hiệu là "cộng ḥa dân
chủ", hoặc "dân chủ nhân dân". Chế
độ cộng sản miền Bắc là Việt Nam Dân
Chủ Cộng Ḥa, chế độ Pol Pốt là Kampuchia
Dân Chủ.
Đáng riếc là chúng ta, một dân tộc
đông đảo và có lịch sử dài, đă không có
được những nhà tư tưởng đủ
tầm vóc trong một khúc quanh lịch sử quan trọng.
Đáng tiếc hơn nữa là ông Ngô Đ́nh Nhu thay v́ khiêm
tốn t́m hiểu mô h́nh dân chủ phương Tây
để đem ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam
lại nuôi tham vọng làm người khai sáng ra một
hệ thống chính trị mới và du nhập một
học thuyết mà chẳng ai, kể cả ông, hiểu
được. Cuộc đấu tranh mà hai ông Diệm và
Nhu lănh đạo không c̣n ư nghĩa ǵ cả v́ nó không
được đặt dưới ngọn cờ dân
chủ.
Một nguyên nhân quan trọng khác
đưa đến sự sụp đổ của
chế độ Ngô Đ́nh Diệm là ông Diệm và ông Nhu
không biết làm chính trị.
Nguyên nhân của tệ gia đ́nh trị
là do ông Diệm không có đội ngũ. Chỉ một
việc này thôi cũng đủ chứng tỏ ông Diệm
và ông Nhu không có tầm vóc của những nhà hoạt
động chính trị đúng nghĩa. Họ chọn
lối làm chính trị nhân sĩ, theo đó người ta
xây dựng uy tín và tiếng tăm cho ḿnh, rồi chờ
thời cơ. Đó là cách làm chính trị tồi tệ
nhất. Cách đánh giá đúng nhất, có thể là duy
nhất, một người lănh đạo là đánh giá
đội ngũ của ông ta. Đội ngũ đông
đảo tới mức nào, gồm những thành phần
nào, đạo đức và ư chí ra sao, khả năng
thế nào, gắn bó với nhau tới mức độ
nào, để theo đuổi mục tiêu nào, v.v.
Vào lúc ông từ chức thượng
thư bộ lại ở tuổi 32 với tiếng
tăm của một người trong sạch, ông Diệm
đă có điều kiện để xây dựng một
chính đảng. Có lẽ ông cũng muốn làm việc này
v́ ông đă bắt liên lạc với Kỳ Ngoại
Hầu Cường Để và gia nhập Việt Nam Quang
Phục Hội nhưng ông đă không thành công. Việt Nam
Quang Phục Hội chỉ là một cái vỏ rỗng, nó
vô nghĩa đến nỗi ngay cả khi đă nắm
được chính quyền nhờ thời cơ, ông
Diệm cũng không nghĩ đến việc phát triển
nó.
Tại sao ông Diệm không có đảng ?
Trước hết cần hiểu thế nào là
đảng. Đảng Cần Lao của ông Nhu, cũng
như đảng Dân Chủ của ông Thiệu sau này, không
phải là những chính đảng. Đó là sự tập
trung ô hợp của những người chen lấn nhau
để tranh giành ân huệ từ một ông chủ. Khi
ông chủ không c̣n, hoặc không c̣n ǵ để ban phát,
đám đông tan ră tức khắc. Một chính đảng
đúng nghĩa không phải như thế. Đó là
những người tự nguyện đến với
nhau v́ cùng chia sẻ những giá trị chung và đồng ư
trên một dự án chính trị. Các chí hữu không bỏ
rơi nhau trong khó khăn v́ đó là cam kết tiên quyết
của tổ chức. Đồng ư trên một dự án
chính trị có nghĩa là họ đồng ư với nhau
về cả những mục tiêu phải đạt
đến lẫn những phương pháp để
đạt mục tiêu. Quan trọng hơn nữa, gia
nhập tổ chức phải là một hy sinh về
quyền lợi, tự do, và đôi khi cả an ninh,
để gây dựng một đội ngũ đủ
sức mạnh để thực hiện lư tưởng.
Tóm lại, phải có tư tưởng đặc sắc
và dự án đúng đắn, phải có những
người lănh đạo đủ khả năng và
sức hấp dẫn để thành lập, duy tŕ và phát
triển đội ngũ. Quan trọng hơn hết,
phải t́m được những con người có tài, có
đức và có ḷng.
Ông Diệm và ông Nhu không có tư tưởng
chính trị. Linh mục Cao Văn Luận kể lại
trong hồi kư của ông rằng, sau thế chiến II ông
về nước gặp ông Diệm và hỏi về
đường hướng chính trị th́ được
ông Diệm cho xem một tài liệu viết tay lộn
xộn, một nửa bằng tiếng Pháp, một nửa
bằng tiếng Việt. Đó là sau khi ông Diệm từ
chức và có đủ thời giờ để suy nghĩ
sau hai mươi năm. Không có kinh th́ không lập
được đạo, ông Diệm đă chỉ qui
tụ được vài người thân tín phục tùng cá
nhân ông. Ông Ngô Đ́nh Luyện, khi bàn về chế
độ Ngô Đ́nh Diệm, đă nói với tôi một năm
trước khi qua đời năm 1989 : "Nếu
trước khi cầm quyền ông cụ đă có sẵn
một ê-kíp khoảng mười người có khả
năng th́ đă thành công rồi". Lúc ông được
ông Bảo Đại mời ra làm thủ tướng, ông
hoàn toàn không có ai. Ông Nhu và ông Luyện phải đi t́m
bộ trưởng trong số những người quen
biết, chẳng hạn như trong đám sinh viên thuộc
giáo xứ Công giáo tại Paris. Bác sĩ Trần Kim
Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị
(thực tế là cơ quan t́nh báo), con người
được coi là cột trụ của chế
độ Ngô Đ́nh Diệm, tâm sự rằng : "Ḿnh
chỉ là chỗ quen biết với ông cụ mà
được tín nhiệm chứ co biết ǵ về
chính trị đâu, c̣n t́nh báo th́ ḿnh hoàn toàn mù tịt".
Ông Ngô Đ́nh Luyện cũng xác nhận điều này.
Những người thân tín nhất của ông Diệm và
ông Nhu đều như thế cả. Một vài
người xuất sắc là những ngoại lệ
hiếm hoi, và họ cũng không được trọng
dụng v́ không phục tùng vô điều kiện và do đó
không được tín cẩn. Con những người khác
th́ không cần nói đến. Họ đi theo ông Diệm
để cầu mong danh lợi. Họ có thể có
bằng cấp cao, nhưng kinh nghiệm chính trị th́
tuyệt đối không, ư chí cũng không, mà trong nhiều
trường hợp lại thiếu cả phẩm giá.
Họ không tham dự vào việc lănh đạo cuộc
đấu tranh bảo vệ chế độ, và khi
chế độ gặp khó khăn họ bỏ rơi ông
Diệm, thậm chí phản bội.
Đảng Cần Lao chỉ là một
ảo tưởng, nó hoàn toàn không có một thực
chất nào. Ông Diệm dựa vào bộ máy chính quyền do
người Pháp để lại và tin dùng những cựu
công chức và quân nhân của bộ máy này ; những
người cùng một tâm lư và quá tŕnh như ông. Nhưng
mọi bộ máy cần những người lănh
đạo chính trị đặt ra chính sách, mục tiêu,
đôn đốc việc thực hiện và nhất là cho
nó một ư chí và một linh hồn. Nói cách khác, cần
những cán bộ chính trị trong một chính đảng
mà ông Diệm và ông Nhu không có.
Nếu có một chính đảng, ông
Diệm đă không cần, và cũng không thể, dựa
trên gia đ́nh, ông cũng không phải lo sợ sự
phản bội đến nỗi luôn luôn phải cắt
đặt vào những địa vị quyền lực
cao những người mà ông biết trước là không có
bản lănh nào để có thể phản bội ông. Và
chắc chắn cũng không có vấn đề xây dựng
chủ nghĩa nhân vị, thay vào đó là một cuộc
đấu tranh v́ tự do dân chủ thực sự, có
kế hoạch và có quyết tâm.
Với những thiếu sót trầm
trọng như thế, sự thất bại của ông
Diệm và ông Nhu là điều không tránh khỏi, dù họ
không mắc phải những sai lầm thường được
viện dẫn ra để giải thích sự thất
bại của chế độ đệ nhất cộng
ḥa. Họ sẽ phạm những sai lầm khác, v́ họ chỉ
có thể sai lầm thôi.
Có phải v́ thế mà cần lên án ông
Diệm và ông Nhu không? Tôi nghĩ là không v́ xét cho cùng, trong giai
đoạn đó cũng chẳng có ai hơn họ. Vào lúc
đó chúng ta thiếu một nhân sự chính trị đúng
nghĩa. Những người có phương tiện ăn
học th́ chạy theo bằng cấp để cầu danh
vọng cá nhân. Bằng cấp và địa vị cho
họ cái ảo tưởng là họ có văn hóa nhưng
thực ra họ không có. Một số người, mà chúng
ta phải đặc biệt kính phục, đă dấn thân
tranh đấu cho dân tộc trong các đảng phái
quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và
đảng Đại Việt. Họ thao thức t́m
một hướng đi cho đất nước
nhưng họ vừa thiếu phương tiện vừa
không được xă hội quí trọng, lại bị các
chính quyền mệnh danh là quốc gia trù dập nên không
theo kịp được tiến triển của văn
hóa và tư tưởng thế giới. Ư thức quốc
gia nẩy nở trong một quần chúng mà kiến
thức ngày càng được mở rộng nhưng
lại vắng mặt trong giới cầm quyền. T́nh
trạng này đẻ ra một nghịch lư là chế
độ Việt Nam Cộng Ḥa có rất nhiều
người tốt trong quân đội cũng như trong
bộ máy hành chính, nhưng lănh đạo lại cực
kỳ tồi dở. Và cuối cùng th́ một chế
độ chỉ đáng giá ở mức mà lănh đạo
của nó đáng giá. Cho nên chế độ Việt Nam
Cộng Ḥa đă sụp đổ một cách hổ
nhục, và biết bao nhiêu trí tuệ và dũng cảm
bị uổng phí. Thảm kịch đó là do cái di sản
của văn hóa Nho giáo, đào tạo con người
để làm tôi tớ chứ không phải để làm
những con người tự do, sáng tạo và dũng
cảm.
Và nếu có một bài học mà chúng ta
cần rút ra, không những cần mà c̣n cấp bách v́ chúng ta
vẫn chưa rút ra được, th́ đó là đấu
tranh chính trị phải có tổ chức. Chính trong tổ
chức mà các khái niệm được h́nh thành, các ư
kiến được sàng lọc dưới ánh sáng
của trí tuệ và thực tại, mà ḷng tin
được nuôi dưỡng và tăng cường, mà
quyết tâm được hun đúc, bản lănh và trí
tuệ được rèn luyện. Mỗi người,
trong khi hy sinh một phần cái tôi của ḿnh, trở thành
lớn hơn và tạo ra sức mạnh cần có
để thay đổi thay v́ chịu đựng lịch
sử. Nếu không chúng ta sẽ bất lực và chỉ có
thể sai lầm.
Một lời sau cùng cho ông Diệm và các
em ông. Với những giới hạn về nhận
thức của họ và với bối cảnh xă hội và
nhân văn mà họ thừa hưởng, họ chỉ có
thể sai lầm mà thôi. Như mọi người khác trong
thời đại của họ. Nhưng ít ra họ đă
sống và đă chết như những con người
xứng đáng.
Nguyễn Gia Kiểng
(Nguồn:
thongluan.org tháng 11, 2004)